Ngày 10 tháng 3 ta, là ngày Quốc Giỗ, đồng thời cũng là ngày Hội làng Giá quê tôi (Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội). Mời mọi người về thăm quê tôi qua một vài bức ảnh và bài viết sau đây nhé, Thank!

      

                                           VÀI NÉT VỀ LÀNG YÊN SỞ

                                           Huyện Hoài Đức, Hà Tây, nay là Hà Nội

           Bài viết của Ông Nguyễn Thế Dũng - Trích lời bình phim Video “Tế dẫn” trong Hội Giá

      Xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội xưa gọi là Cổ Sở, có tên nôm là làng Giá Lụa. Như tên gọi xưa, Yên Sở là một vùng đất cổ, có niên đại trên dưới 3500 năm, có truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời, toạ lạc vùng thượng lưu giòng Hát Giang thơ mộng, nay là giòng sông Đáy đang vươn mình trở dậy. Cánh bãi phù sa Tả Đáy ngút ngàn dâu xanh, mía ngọt tạo nên một vùng quê nổi tiếng trồng dâu nuôi tằm, kéo tơ dệt lụa sánh vai với các làng La Vạn trong vùng. Làng còn có cả một Chợ Tơ Lụa họp vào các ngày 3, ngày 8 âm lịch tại giưa làng với tên gọi là Chợ Lụa. Là một làng đông dân, trù phú lâu đời , lại được chở che bởi một rừng dừa sầm uất – loại cây trái trời ban tặng riêng cho làng bởi cả một vùng Bắc bộ rộng lớn mênh mông này, không có làng nào nhiều dừa đến vậy. Cho nên, một số người còn gọi làng tôi là Làng Dừa. Làng là một chỉnh thể nhất xã, nhất thôn, gần một vạn dân nhưng đều là anh em, bà con phi nội tắc ngoại, thương yêu đùm bọc nhau, cùng phụng thờ ông bà tiên tổ và hướng tâm vào nơi Cửa Phật, không một ai theo đạo nào khác. Do vậy từ xa xưa, làng đã có một nền nếp văn hoá tốt đẹp đã được phong tặng “Mỹ tục Khả phong”. Nền nếp văn hoá ấy thể hiện trong việc đối nhân xử thế, trên kính, dưới nhường, nhất nhất tuân theo pháp luật và các phong tục tốt đẹp được ghi trong Hương ước làng. Truyền thống hiếu học cũng được phát triển từ lâu, các vị Tiến sĩ Nguyễn Chiêu Khanh đời Nhà Mạc, Trần Danh Tiên đời Lê cùng nhiều vị cử nhân tú tài được lưu danh đã chứng minh điều đó. Nói đến làng Giá Lụa quê tôi, không ai không biết đến câu “Đình không xà, làng bày ba cái Giếng”. Đình không xà là một ngôI đình cổ, có từ thế kỷ thứ 14, 15; được kiến trúc đặc biệt, không có bất cứ xà dọc xà ngang nào. 73 giếng khơi được đào sâu, xếp đá vòng tròn lên mặt đất, đáy giếng nào cũng có một khung gỗ lim xếp hình chữ Tỉnh – Tỉnh là giếng.

                  

Từ xa xưa làng tôi đã là một vùng hiểm yếu ở vùng đồng bằng Bắc bộ - “Cổ Sở danh tam hiểm”, do vậy nơi đây đã ghi bao kỳ tích chống ngoại xâm. Từ các cuộc khởi nghiã Hai Bà Trưng năm 40 đầu thiên niên kỷ I, đến chống xâm lược Nguyên Mông, Minh Thanh với những di tích còn đây: “Cầu Binh, Mả Gạo, Gò Gio…” Đặc biệt, dân làng tôi vô cùng tự hào về những chiến công hiển hách của người con trung hiếu của quê hương đánh ngoại xâm phương Bắc ở thế kỷ thứ 6 sau Công Nguyên: Đó là Tướng công Phạm Tu Lý Phục Man. Người được sinh ra từ xóm nghèo Lã Xá đất Cổ Sở. Từ nhỏ đã có sức khoẻ phi thường, lớn lên thành chàng trai tuấn tú, có tài thao lược, thuần hoá được ngựa voi và có tài thiện xạ. Trước ách xâm lược tàn bạo của Nhà Lương, Người đã đứng lên dựng cờ khởi nghiã, ân binh đồng lòng theo Người giệt giặc rất đông nên chỉ trong thời gian ngắn, người đã giải phóng được cả vùng rộng lớn xứ Đoài. Lúc ấy, trên đất Thái Bình – Thạch Thất ngày nay – Lý Bôn cũng dựng cờ khởi nghiã. Nghe theo tiếng gọi của chính nghĩa, Phạm Tu đã đem toàn bộ dân binh và đất đai giảI phóng sát nhập vào đoàn quân Lý Bôn. Dưới ngọn cờ họ Lý, Người đã giải phóng được vùng Đỗ Động, Đường Lâm rộng lớn, góp phần đắc lực vào thắng lợi chung, đánh đuuôỉ quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, cùng Lý Bôn dựng nên nước Vạn Xuân độc lập – một nhà nước độc lập đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Người được phong Thái Uý dứng đầu trăm quan, được đổi Quốc tính, chuyển thành họ Lý. Kịp gặp lúc quân Chiêm Thành Lâm ấp ở phía Nam phát động chiến tranh xâm lược lấn chiếm bờ cõi phía Nam của Tổ quốc, Lý Nam Đế tin tưởng giao cho Người trọng trách dẹp giặc phương nam. Người chỉ một lần ra quân Nam Tiến dã giành thắng lợi huy hoàng; bọn vua quan Lâm ấp Chiêm Thành xin đời đời quy phục, Người được phong là Phục Man Tướng Công, sau quen gọi là Lý Phục Man và được vua Lý Nam Đế gả con gái cho Người. Năm Ất Sửu - 545, viên bại tướng nhà Lương lại được vua Lương sai sang xâm lược nước ta lần nữa. Dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế, Người đã chỉ huy quân đội chiến đấu quyết liệt chặn bước chân xâm lược của kẻ thù. Trong một trận quyết chiến chiến lược ở đồn Tô Lịch – Hà Nội ngày nay – Người đã anh dũng hy sinh. Hai Tuỳ tướng họ Trương đã mở đường máu, phá vòng vây đưa Người về quê hương, Người đã hoá thân trong Rừng Cấm, cạnh bến Hồ Mã bên dòng Hát Giang thân yêu. Người đã được khâm tặng Gia Thông Đại Vương, Thiên Nam Thánh, Thượng đẳng Phúc Thần. Đền thờ Người được lạp trên bến Hồ Mã ngay từ khi Người được hoá thân về cõi vĩnh hằng. Năm 1012, nhân chuyến trần du trên sông Hát, Lý Thái Tổ đã cho xây dựng lại đền, dựng tượng thờ.

                   
            

Và từ đó trải qua các đời Trần, Lê… Đền Giá được xây dựng thêm, ngày càng hoàn chỉnh, đồ sộ, nguy nga hiếm thấy. Nhân dân làng chúng tôi gọi đây là Đền, là Miếu và mấy mươi năm gần đây quen gọi là Quán - Quán Giá bởi sự linh ứng đặc biệt của Người. Đền thờ Người có ba lớp: Đền Thượng (Cung Cấm) có tượng thờ Người được dựng theo giấc mộng của Lý Thái Tổ, bên trái Người là Lý Nương Đại Vương, bên phải Người là Á Nương Đại Vương- Bên ngoài gần sát Đền Thượng là 2 tuỳ tướng họ Trương; tiếp theo là đền Hạ, hay còn gọi là Tiền Đường. Hai đầu, kề sát Đền Trung là nhà Bia ở phía Tây, nơi còn lưu giữ được 5 bia đá, bia cổ nhất được dựng năm Canh Thân, niên hiệu Vĩnh Tộ 1620 đời Nguyễn Dực Tôn Tự Đức. Các bia này ghi lại sự tích Thần, các sắc phong qua các thời đại, năm tháng xây dựng, tôn tạo khu đền và quy ước lễ hội. Bên Đông Đền, một nhà thờ Thần Bạch Mã được đúc bằng đồng năm Đinh Hợi 1707 thời vua Lê Dụ Tôn, là một công trình kỹ thuật, mỹ thuật đặc sắc có một không hai. Nhân dân làng chúng tôi ngày đêm nhang nến phụng thờ Người vô cùng nghiêm cẩn. “Nhân vi Tướng, Tử vi Thần”, Người đã anh linh kỳ diệu. Xưa đã vậy, ngày nay vẫn thế. Xưa các bậc vua chúa, vương thân hoàng tộc từ Thăng Long về đây tế lễ, cầu nguyện được linh ứng hộ trì nên các triều đại xưa đều ban thưởng nhiều sắc phong, sắc lệnh ân sủng cho dân làng được miễn thuế, miễn phu phen tạp dịch để chuyên lo việc phụng thờ Người. Dân làng chúng tôi cũng dồn hết tâm sức, niềm tôn kính, biết ơn Người vào việc hệ trọng này. Thờ không dễ, giữ lễ càng khó. Do vậy, các tuần tiết phụng thờ Người được dân làng quy định rất cụ thể, chi tiết, nghiêm ngặt từ đầu năm đến cuối năm. Mỗi tiết lệ đều có cách thức thức lễ tế riêng, có văn tế riêng; ngay như trong những ngày lễ hội, mỗi ngày cũng có một bài văn tế riêng theo thể phú biền ngẫu gieo vần theo từng ngày. Đó là chuyện xưa được các cụ truyền lại và đã ghi trong Hương ước làng được lập từ lâu, sao lục lại vào năm Duy Tân thứ 8.

                                                                               Nguyễn Thế Dũng, Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội