Sign up

Trường Mẫu giáo bán công "Mầm Non B" Hà Nội vừa kỷ niệm trọng thể 30 năm thành lập tại Nhà hát lớn - Hà Nội. Mình đã viết kịch bản và biên tập âm nhạc cho một chương trình "Liên khúc sử thi Mầm Non B - 30 năm một chặng đường tin yêu" và đã được các Cô giáo và các bé Mầm Non B biểu diễn rất thành công, được nhiều người khen ngợi. "Trường mình lớp mình" là một ca khúc mình viết, trích trong màn Liên khúc sử thi đó, mời các bạn nghe thử nhé!

   

  http://i606.photobucket.com/albums/tt150/nsngockhue/Bai%20hat/TruongminhlopminhOK3.png?t=1259050745 (Xem tiếp)

Trường THCS Dương Liễu - Xưa là Trường Cấp II Chiến Thắng, nơi tôi và các bạn cùng lứa đã theo học từ ngày đầu thành lập (năm học 1959-1960) vừa kỷ niệm 50 năm ngày thành lập. Chúng tôi vừa thực hiện một phim Video 50 phút "Trường THCS Dương Liễu xưa và nay" và đã được làm thành đĩa VCD quà tặng cho các đại biểu về dự lễ kỷ niệm. Bài hát "Trường em Dương Liễu quê mình" tôi viết tặng nhà trường, và đã được HS biểu diễn trong chương trình đại lễ này. Mời các bạn cùng nghe nhé!

   

Mời các bạn nghe lại một bài hát mình đã thu thanh trên Đài PT Tiếng Nói Việt Nam từ cuối năm 1981, bài "Sa Pa - Thành phố trong sương" của Nhạc sỹ Vĩnh Cát  ngay từ khi bài hát vừa ra đời. Ca khúc này đã được nhiều bạn yêu thích - và Băng ghi âm này cũng nhiều năm (và ngay cả bây giờ) vẫn còn được nhắc tới trên làn sóng Đài TNVN. Xin cám ơn "quocviet75" đã post bài này trên YouTube, cảm ơn "son64b" đã có một comment tốt đẹp!

                                                                        “BẢN HỢP XƯỚNG”

                                            45 năm Đoàn Nghệ thuật Phòng không – Không quân

                                                                                                                                   NGỌC KHUÊ

      Có một nhạc sĩ đã ví rằng: “Chặng đường 45 năm xây dựng và phát triển của Đoàn Nghệ thuật PK-KQ như một bản hợp xướng lớn 3 chương. Chương Một với tên gọi: “Trận đầu chiến thắng”; chương Hai: “Những nẻo đường đến với Bầu trời”; và chương Ba: “Niềm tin và Khát vọng”! Đó là một sự ví von chính xác và thú vị! Mặc dù có những tên gọi và chủ đề riêng, nhưng cả 3 chương đó đã kết hợp lại thành một bản Hợp xướng lớn với một cấu trúc trọn vẹn, hài hòa. Chương Một “Trận đầu chiến thắng” vừa có ý nghĩa với chính bản thân đoàn (đánh dấu từ sự ra đời của đoàn Văn công PK-KQ vào ngày 18/10/1964) lại vừa mang một ý nghĩa lớn lao hơn: đó là “Những trận đầu chiến thắng” của bộ đội PK-KQ nằm trong một tổng thể của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc. “Âm nhạc và lời ca” của chương Một này vừa hào sảng, mãnh liệt vừa tràn đầy niềm hứng khởi như đoàn quân “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố Hữu), hay như lời ca của Nhạc sĩ Văn Cao trong “Hành khúc Không quân”: “Giờ thề một lòng vượt trên lưng gió quyết chiến thắng…” Tất cả những chiến sĩ – nghệ sĩ của một thời hào hùng ấy đã gây dựng một cơ ngơi, một tên tuổi của Văn nghệ PK-KQ trong suốt những năm tháng đồng hành cùng Quân đội, cùng Đất nước!

    http://farm3.static.flickr.com/2665/4016038038_df418281c4.jpg

      Văn công PK-KQ thời kỳ đầu là một đoàn nghệ thuật tổng hợp, gồm cả 3 loại hình nghệ thuật được bộ đội ta rất yêu thích: Ca nhạc, Múa và Sân khấu (kịch, chèo, tấu nói…), chỉ sau 3 tháng xây dựng, tháng 1 năm 1965 đoàn đã lên đường vào phục vụ “tuyến lửa” Quảng Bình – Vĩnh Linh, rồi sau đó là Hàm Rồng – Thanh Hóa và tất cả những trận địa, sân bay đang chiến đấu đánh trả máy bay Mỹ, bảo vệ bầu trời miền Bắc XHCN; mặt khác, đoàn đã cơ động chia thành 2 mũi, có khi 4 mũi xung kích đi phục vụ các trận địa khắp các chiến trường. Một điểm nhấn và tỏa sáng về nghệ thuật của đoàn được khắc họa đậm nét nhất vào năm 1970, tại Hội diễn Ca Múa Nhạc chuyên nghiệp toàn quốc tổ chức tại Quảng Ninh. Từ đây, những “Tên lửa về bên sông Đà” (Hoàng Tạo), “Bài ca anh nuôi” (Phan Như Hoàng”, “Niềm vui trận địa” (Trọng Đạt), Múa “Trận địa kiên cường và Vui gặp gỡ” (của Thanh Tùng, Xuân Bích), Trận địa quê hương (của Đôn Truyền và Xuân Cống)… đã được người xem yêu mến và không thể không nhắc tới khi nhớ về những ngày tháng đầy kỷ niệm đó. Trước và sau chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đoàn cũng đã kịp thời cử một đoàn Văn nghệ sĩ lên đường vào với sân bay Thành Sơn (Phan Rang) theo sát Biên đội Quyết Thắng “lấy vũ khí địch đánh địch” và rồi cả đoàn hành quân vào Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau ngày giải phóng (17/5/1975), với 6 tháng ròng rã phục vụ bộ đội và nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Nam. Để rồi năm sau - 1976, đoàn Văn công PK-KQ chính thức khép lại “chương Một” của bản hợp xướng 45 năm đầy vẻ vang này.

   http://farm3.static.flickr.com/2688/4015318969_2c4fbb97f3.jpg

             NK và tốp nữ đoàn NT Không quân với "Cánh chim biên giới"- 1981

       Như một yêu cầu tất yếu trong đời sống văn hóa tinh thần của Quân đội ta, của cán bộ và chiến sĩ Quân chủng Không quân Nhân dân Việt Nam và Quân chủng Phòng không anh hùng; sau dấu lặng ngưng nghỉ của “chương Một”, bản hợp xướng lớn ấy bắt đầu vang lên những âm thanh vi vút của “hai anh em sinh đôi”, như 2 bè chính tiến hành trên một điệu thức song song cùng hướng tới một nhiệm vụ chung cho cả hai: nhiệm vụ bảo vệ bầu trời! Cách tiến hành có khác nhau, thời gian khởi đầu có khác nhau (Đoàn Không quân đầu năm 1981, Đoàn Phòng không cuối năm 1982), nhưng giống nhau ở tổ chức, biên chế và phương hướng nghệ thuật. Đặc biệt, sự nối tiếp, tái hiện và phát triển chủ đề đã có ở “chương một” luôn luôn thể hiện rõ ở những cán bộ và một số diễn viên được giữ lại làm nòng cốt từ đoàn Văn công PK-KQ trước đây và sau này làm cán bộ chỉ đạo, chuyên gia hoặc chỉ huy đoàn như: Hoàng Tạo, Ngọc Khuê, Đàm Giai, Hoàng Yến (Không quân) rồi Trọng Đạt, Nguyễn Long, Ái Vinh, sau đó là Trương Ngọc Ninh (Phòng không) v.v… Cũng có thể nói “ra ở riêng”, hai anh em sinh đôi lại càng có điều kiện chắt chiu xây dựng và vun đắp “ngôi nhà” của mỗi người có cảnh trí đẹp đẽ khang trang, sắc màu chung riêng rõ nét. Trên “những nẻo đường đến với bầu trời” đó, mỗi đoàn đều làm trọn nhiệm vụ của mình, nhiệm vụ biểu diễn phục vụ bộ đội và nhân dân trên các địa bàn đóng quân, nhiệm vụ xây dựng những chương trình lớn đáp ứng yêu cầu của công tác Đảng, công tác chính trị của Quân đội trong từng thời kỳ; tạo ra được những mốc son có thể ghi vào lịch sử phát triển của Văn nghệ PK-KQ:

         http://farm3.static.flickr.com/2792/4015319179_fbaab78c8b.jpg

                     Ca sĩ Thúy Ngân, giải thưởng "Ca sĩ trẻ xuất sắc nhất" Liên hoan CMN nhẹ

                     chuyên nghiệp toàn quốc với ca khúc "Hạt nắng hạt mưa của Ngọc Khuê

       Đoàn Không quân với “Bầu trời và vũ trụ” (Huy chương Vàng Hội diễn Ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc 1985); “Bầu trời – Mặt đất tôi yêu” (Giải nhì Liên hoan Ca múa nhạc nhẹ chuyên nghiệp toàn quốc 1989), “Không quân nhân dân Việt Nam – 40 năm tuổi trẻ, anh hùng” (HCV Hội diễn Nghệ thuật chuyên nghiệp toàn quân 1994). Đoàn Phòng không với: “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” (1982), “Chương trình ca múa nhạc – tạp kỹ” (1984), “Chương trình kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Hà Nội - Điện Biên Phủ” (1994) v..v… Cũng trong quá trình xây dựng và trưởng thành đó của mỗi đoàn, có nhiều lúc thăng trầm. “Chương Hai” có “bè” còn một vài “dấu lặng” nữa, nhưng một “bè” vẫn mải miết âm vang, mặc dù đang ở trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn về tổ chức, biên chế trong các đoàn nghệ thuật Quân đội nói chung và 2 Quân chủng KQ và PK nói riêng. Hai “dấu lặng” là một sự “ngắt quãng” không âm thanh, nhưng nghe lại, đôi khi ta vẫn thấy còn day dứt… Mặc dầu vậy, bản hợp xướng vẫn không thể mất đi được những âm thanh kỳ diệu, ngân nga từ sâu thẳm trong tâm hồn mỗi người chiễn sỹ – nghệ sỹ trên những nẻo đường và khoảng trời Tổ quốc.

         Với tên gọi: “Niềm tin và Khát vọng”, “chương Ba của bản hợp xướng” này thực sự đã diễn tả được lòng yêu quý con người, yêu quý bầu trời, niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống và niềm khao khát được bay lên làm chủ bầu trời, làm chủ cuộc sống và cống hiến nghệ thuật. Kể từ tháng 7 năm 1999, cùng với sự tái hợp nhất Quân chủng PK-KQ, hai Đoàn Nghệ thuật KQ và PK cũng hợp nhất thành Đoàn Nghệ thuật PK-KQ như hiện nay. Nhiệm vụ của đoàn vẫn như xưa, nhưng nhiều hơn, nặng nề hơn; và đặc biệt là trách nhiệm bảo tồn và phát huy những thành tựu trong cả một bề dày truyền thống 45 năm đầy thử thách và vinh quang còn đòi hỏi đoàn phải phấn đấu nhiều hơn nữa. Chúng ta tự hào vì đoàn luôn luôn hoàn thành nhiệm vụ, nhiều năm liền đạt danh hiệu “Đơn vị Quyết thắng”. Nhiều chương trình, tiết mục của đoàn, nhiều nghệ sĩ, nhạc sĩ, tác phẩm ra đời đã trở thành nổi tiếng không chỉ trong Quân chủng, Quân đội mà còn cả trong quần chúng nhân dân. Đối với cán bộ và chiến sĩ làm nhiệm vụ bảo vệ bầu trời, hơn ai hết, họ thấu hiểu về đoàn, về những bài ca, điệu múa mà các nghệ sĩ, diễn viên của đoàn đã thay họ nói lên những tình cảm thân yêu nhất đối với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân và với bầu trời chúng ta đang canh giữ. Trong những năm gần đây, đoàn luôn luôn cố gắng để có được những chương trình, tiết mục hay, xứng đáng với niềm tin yêu của bộ đội. Trong những đợt liên hoan, hội diễn nghệ thuật chuyên nghiệp của Quân đội ta cũng như Hội diễn Ca Múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc, các liên hoan chuyên đề ca múa nhạc dân tộc, đến hội diễn nghệ thuật chuyên nghiệp toàn quân năm vừa qua (2008), đoàn đã thực sự gây ấn tượng tốt đẹp trong lòng cán bộ chiến sĩ trong Quân chủng, Ban Giám khảo và trong những người làm nghệ thuật chuyên nghiệp với chương trình “Huyền thoại Ông Gióng” đạt xuất sắc và nhiều tiết mục Huy chương vàng, bạc. Với “cao trào” này của “chương ba”, với cơ ngơi ngày càng khang trang, trang thiết bị biểu diễn ngày càng hiện đại, đội ngũ cán bộ diễn viên luôn được nâng cao trình độ và trẻ hóa, chắc chắn đoàn sẽ phát huy được truyền thống 45 năm đầy đặn của mình. Có thể nói, những thời kỳ thịnh vượng và phát triển của đoàn trong suốt 45 năm qua luôn song hành cùng chặng đường xây dựng, chiến đấu và chiến thắng hào hùng của Quân chủng PK-KQ. Trải qua 45 năm, với khá nhiều thăng trầm nhưng rất đỗi tự hào, đoàn Nghệ thuật PK-KQ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, nhiệm vụ của những người chiến sĩ – nghệ sĩ luôn luôn sát cánh, kề vai với cán bộ và chiến sĩ làm nhiệm vụ vinh quang mà Đảng, Quân đội và nhân dân giao phó: nhiệm vụ bảo vệ bầu trời Tổ quốc Việt Nam XHCN! Các nghệ sĩ ưu tú (Thanh Tùng, Vũ Toàn, Mạnh Hưng, Đặng Hùng, Thanh Hòa, Đức Chính, Đức Long, Vi Hoa, Mai Hoa, Lệ Thủy, Ngọc Anh); những tác giả, tác phẩm và diễn viên đã và sẽ càng ngày càng làm phong phú thêm cho sự nghiệp văn học nghệ thuật của Quân chủng, Quân đội và đông đảo người yêu nghệ thuật nước nhà.

        “Bản hợp xướng 45 năm Đoàn Nghệ thuật PK-KQ” đã và sẽ còn vang mãi. Những âm thanh bất tận của “chương ba” đang được các nghệ sĩ, diễn viên và trưởng đoàn – NSƯT Ngọc Anh viết tiếp với một bút lực mới!

                                                                                  Tháng 9/2009

                                                                                         N.K

Cục Chính trị Quân chủng PK-KQ tổ chức "Lớp tập huấn sáng tác ca khúc" năm 2009 cho trên 20 tác giả là các hạt nhân sáng tác tại các đơn vị trong Quân chủng. Khai mạc tại Thành phố Vĩnh Yên (Đoàn AD 18) có các đ/c đại diện CCT Quân chủng, các nhạc sĩ: Đoàn Bổng, Ngọc Khuê cùng anh chị em trong lớp. Một số bứcảnnhh chụp tại ngày khai mạc:

    http://i606.photobucket.com/albums/tt150/nsngockhue/Nhung%20chuyen%20di/KhaimaclopsangtaccakhucPKKQ2009.jpg

    http://i606.photobucket.com/albums/tt150/nsngockhue/Nhung%20chuyen%20di/Anhin10x15-4a.jpg

    http://i606.photobucket.com/albums/tt150/nsngockhue/Nhung%20chuyen%20di/Anhin10x15-10a.jpg

    http://i606.photobucket.com/albums/tt150/nsngockhue/Nhung%20chuyen%20di/NgocHoa-NgocKhue-DoanBong-ChiNhi.jpg

 

    http://pic.photobucket.com/spacer.gif

   http://pic.photobucket.com/spacer.gifhttp://pic.photobucket.com/spacer.gif

Đây là 2 đoạn trích trong phim VIDEO của Truyền hình cáp VN VCTV12 nói về "Bánh Làng Giá" mà tôi đã có dịp khoe với các bạn. Vì thời gian có ít và file video nặng nên chỉ tóm lược thôi, mong mọi người thông cảm nhé! Thank! (Xem tại Liên kết cá nhân/ Xem Video Clip)

                       http://langlualanghoa.vnweblogs.com/gallery/5093/previews-med/Ghi%20hinh%20Banh%20Gai%20Lang%20Gia%2002.jpg

                Các Biên tập viên, tác giả kịch bản và dẫn chương trình đang chuẩn bị ghi hình

Các bạn có hay xem TV không, Truyền hình cáp VN chẳng hạn? Nếu vây, mời các bạn bật VCTV 12 (hay còn có tên là Style TV) để xem chuyện về bánh Gai và Bánh Gio quê tôi nhé, tôi là khách mời của chương trình mà!

       Lịch phát sóng:

18h00 thứ 2(15/06) - 23h25 thứ 3(16/06) - 15h00 thứ 4(17/06) -  23h25 thứ 5 (18/06) - 12h35 thứ 6 (19/06) -

18h45 thứ 7 (20/06) - 15h00 Chủ nhật (21/06) - Rồi sau đó sẽ phát tiếp trên VTV4.

(Đại ý mấy câu tôi nói trong chương trình)

1- Bánh Gai

Làng tôi là một vùng đất cổ, toạ lạc vùng thượng lưu giòng Hát Giang thơ mộng, nay là giòng sông Đáy với cánh bãi phù sa ngút ngàn dâu xanh, mía ngọt tạo nên một vùng quê nổi tiếng trồng dâu nuôi tằm, kéo tơ dệt lụa và những loại bánh trái độc đáo trên vùng đồng bằng Bắc Bộ. Các loại bánh truyền thống như bánh Gai, bánh Gio, bánh tẻ, bánh nếp thì chúng đều là đặc sản của Làng Giá và cả vùng Xấu Giá quê tôi. Bánh gai quê tôi có 2 đặc điểm nổi bật là: ăn ngon, để được lâu. Bánh làm từ 25, 26 Tết, có thể để đến Rằm tháng Giêng, đồ lên mà ăn thì vẫn cứ như bánh vừa gói hôm qua! Đặc điểm thứ 2 là: sau khi làm xong, gói lá chuối rồi sẽ cho bánh vào khuôn lá dừa, một đặc sản hiếm có nữa của một số ít làng quê Bắc Bộ! Chiếc bánh gai trông sẽ vuông vức, thơm tho, đẹp và lạ! Cho đến nay, nếu không phải ngày tết thì chỉ có một số gia đình làm bánh gai thường xuyên theo yêu cầu của khách hàng hoặc thị trường.

   

  

2 - Bánh Gio

Trong ký ức của tôi thì bánh Gio là một thứ bánh rất lạ, ăn thì thật ngon mà chẳng biết các cụ làm như thế nào, tại sao lại gọi là bánh “Gio”, tại sao lại đi đốt rơm thành tro rồi lọc nước ngâm gạo làm bánh, v..v… Còn nhớ Các cụ bảo ăn bánh gio lành lắm, vừa ngon, vừa mát, lại chóng tiêu! Để làm ra những chiếc bánh gio thì không phải là khó. Nhưng nó mất công và cầu kỳ lắm. Rơm nếp, vỏ đỗ, vỏ bưởi.. đốt thành tro sao cho trắng mịn, không bị ám khói, rồi hoà tan nước vôi trong và liều lượng như thế nào thì ăn không bị nồng. Thường thì người ta có thể cho thêm vào nguyên liệu mấy cái măng tre tươi để cho bánh trong hơn và không bị nát v..v…

Chẳng biết bánh gio có tự bao giờ, nhưng nghề làm bánh gio đã trở thành một phần công việc không thể thiếu đối với người dân làng Giá. Mỗi khi năm hết tết đến, ngoài nồi bánh chưng thì mỗi nhà không quên gói dăm cặp bánh gio thật đẹp để thờ cúng tổ tiên và mang xuống Quán Giá - Nơi thờ phụng Tướng công Lý Phục Man đã có công đánh giặc giữ nước, để tạ ơn nhà Thánh và cầu mong thần Phật phù trợ một năm mưa thuận gió hòa, no đủ, yên ấm và hạnh phúc.

             

3- Với riêng tôi, và chắc với ai cũng vậy. Khi xa nhà, xa quê thì tất cả những gì gần gũi gắn liền với tuổi thơ, với quê hương, gia đình đều nhớ. Đó có thể là người Mẹ hay những người thân yêu, là con đê làng, là bờ tre bụi lúa, là những chiếc bánh trái đậm đà hương vị quê hương. Thử hình dung vào những đêm về khuya giữa phố phường Hà Nội, khi ta vừa đặt lưng chuẩn bị vào giấc ngủ thì bỗng nghe văng vẳng tiếng rao đêm: “Bánh Gio bánh Khúc đơ..ơi…”, “Bánh Gai bánh Tẻ nao…nào…” thì dù là ai đi nữa cũng đều man mác nhớ về những điều xa xăm… nhớ về quê hương thân yêu của mình! Thế đấy, những thức quà tưởng như giản đơn vậy mà ý nghĩa biết chừng nào…

  

                                 Làng Giá, Tháng 5/2009

                         Nhớ bạn

 

 

               Cùng nhập ngũ một ngày,

               Người cùng trong một huyện,

               Hắn là tay “hùng biện”

               Mình chỉ biết cười xoà

                                 Hắn trắc thủ Ra - đa

                                 Mình là chân số sáu*

                                 Cùng chặng đường phấn đấu

                                 Cùng thử thách gian lao.

               Vào Đảng thì hắn trước,

               Cưới vợ thì hắn sau,

               Hắn có đứa con đầu

               Mình còn đang ... chờ đợi.

                                 Hắn thì có duyên nói

                                 Miệng lúc nào cũng cười

                                 Ở, mẹ nào cũng mến

                                 Đi, em nào cũng thương...

               Sống thì biết nhịn, nhường,

               Chia thì giành phần ít

               Giữa mưa bom chiến trường,

               Hắn làm như không biết.

                                    Cả một thời oanh liệt

                                    Không một lần bị thương

                                    Mười năm giữa chiến trường

                                    Không nghĩ gì còn, mất...

 

               Đất nước vừa thống nhất

               Thì hắn lại ra đi !

               Hắn mơ ước những gì

               Bệnh tình thiêu đốt cả !

 

                        Ngần ấy cái cùng, bạn bè thương nhớ quá,

                        Ngần ấy cái yêu, đồng đội vẫn kề bên.

                        Hắn đã về quê trong giấc ngủ êm đềm

                        Cùng với đất còn bao điều chưa nói !...

 

                   * Số sáu là số tiếp đạn, dành cho những chú lính mới vào.

                                                                              Ngày đón bạn về quê.

Trường THCS Dương Liễu (Huyện Hoài Đức, TP Hà Nội) xưa là Trưòng Cấp II Chiến Thắng - một trường phổ thông cấp II thứ 2 trong huyện, cho học sinh các xã phía Bắc huyện Hoài Đức. Khi thành lập trường năm 1959 chỉ có được 2 lớp 5, rồi từ đó về sau mới lớn mạnh dần lên. Chuẩn bị cho kỷ niệm 50 năm thành lập trường (1959 - 2009, dự kiến vào tháng 11 năm nay) mình đã sáng tác tặng trường bài hát "Trường Em Dương Liễu quê mình" do Tốp ca Nhà Thiếu Nhi quận Ba Đình, TP Hà Nội trình bày. Mời các bạn nghe nhé!

                     

 

  

 

Có một chiều đà Lạt trong mắt anh. Em say đắm hát câu ca nồng nàn. Có một người đang say mê ngắm nhìn. Em Hoa Cúc xứ sở ngàn hoa...

  

 

 

 

 

     

Hội Âm nhạc Hà Nội tổ chức Trại sáng tác Âm nhạc cho 12 Nhạc sỹ của Hội tại Đà Lạt, Lâm Đồng từ ngày 05 đến 19/5/2009. Đoàn gồm các Nhạc sĩ: Văn Dung, Hồ Quang Bình, Nguyễn Đình Bảng, Đinh Quang Hợp, Phan Quân, Xuân Cửu, Ngọc Khuê, Lê Tuế, Lô Giang, Nguyễn Xuân Sinh, Cao Minh Khanh, Duy Thịnh.

       http://i606.photobucket.com/albums/tt150/nsngockhue/Nhung%20chuyen%20di/TraiSTDalat03.jpg

                 Khai mạc trại sáng tác của Hội Âm nhạc Hà Nội tại Đà Lạt - 12-5-2009

      

                                             "Cúc Đà Lạt"

                          Một rừng thông, một ngọn đồi

            Một cơn gió thoảng, một trời hoa bay

                 Một người lẻ một chiều nay

            Một bài ca của một ngày bên nhau

                 Một bông Cúc nở từ đâu?

            Mà đà Lạt nhớ, một câu hẹn về?....

 

Tôi sinh ra bên dòng sông Đáy và lớn lên từ con đê này. Mẹ đã dắt tôi đi- Ơi người mẹ làng Giá Ơi người mẹ làng Giá... Tình yêu tôi thầm thì như hạt lúa. Tình yêu tôi thầm thì như hạt lúa. Lặng im hạt lúa nói điều gì Lặng im giọt mồ hôi mặn mòi. Và tôi đi trường kỳ bao ngày tháng Mẹ chắt chiu từng hạt mưa hạt nắng Mẹ tôi - Hạt lúa - Quê hương, Quê hương và Hạt lúa - Người Mẹ.

                                                         Ca sĩ Tấn Minh hát

                               

 

Cứ vào độ Tháng Tư hàng năm, anh chị em cán bộ diễn viên đoàn Văn công PK-KQ trước đây lại cùng nhau tụ họp để ôn lại những tháng ngày đã hát trên chiến hào năm xưa. Đặc biệt năm nay, tất cả đươc xem một trích đoạn phim video ghi lại một số hình ảnh năm xưa của đoàn, ai cũng bồi hồi xúc động và cảm ơn các anh chị trong ban liên lạc, đặc biệt là nhạc sĩ - nguyên nhạc trưởng - nguyên Đạo diễn của Đài Truyền hình Việt Nam Nam Hà thực hiện, cùng những giai điệu đi mãi cùng thời gian của nhac sĩ Hoàng Tạo, nguyên là cán bộ sáng tác của đoàn như: Tên lửa về bên Sông Đà, Đưa anh đi hái măng rừng cùng những tác phẩm của Ngọc Khuê: "Mùa xuân làng lúa làng hoa và Gặp gỡ đồng đội, (có câu hát mở đầu cũng là tiêu đề cho cuộc gặp mặt năm nay).

                     http://langlualanghoa.vnweblogs.com/gallery/5093/previews-med/Gap%20mat%20VC%20PKKQ%202009%20-%20Vu%20Huyen%20-%20toan%20doan.jpg

                     http://langlualanghoa.vnweblogs.com/gallery/5093/previews-med/Gap%20mat%20VC%20PKKQ%202009%20-%20Vu%20Huyen.jpg

                                   Hoạ sĩ sáng tác và thiết kế mỹ thuật của đoàn năm xưa: Vũ Huyên

                                        Bài thơ tặng đồng đội ngày gặp mặt

Khi lòng ta có tình yêu sưởi ấm

Khi đời ta có mơ ước rọi đường

Dẫu gian khó nhọc nhằn, dẫu đường đi đèo dốc

Tuổi trẻ chúng mình vẫn ngát thơm hương

Dù tuổi hai mươi lớn lên trong tiếng súng

Giọng hát ta từng vang vọng chiến hào

Ta vẫn trẻ và cứ tươi đẹp mãi

Vì đã thắng những đêm dài, thắp sáng một trời sao.

                                  Vũ Huyên

Ghé blog... ông “làng lúa làng hoa”

QĐND Online -Một chiều đầu tháng 4, đến thăm nhà nhạc sĩ Ngọc Khuê (nguyên Chủ nhiệm Nhà văn hóa Quân chủng PK - KQ) khi ông đang “lư¬ớt” blog của mình, ông vui vẻ: “Nó tròn một tuổi rồi đấy. Từ khi có blog, anh em, bạn bè thư¬ờng xuyên cập nhật đ¬ược thông tin của nhau. Nó cũng là nơi mình gửi gắm tâm tư¬, tình cảm của một ng¬ười lính đã rời xa quân ngũ nhưng trong lòng vẫn luôn dõi theo các hoạt động của Quân chủng”. Cầm tờ địa chỉ blog của ông trong tay, langlualanghoa.vnweblogs.com, tôi khấp khởi ghé thăm và chờ đợi những điều mới lạ… (Bài viết đăng trên QDND của nhà báo Lê Xuân Đức)

   Nhấn VÀO ĐÂY để xem cả bài viết

                             http://admin.qdnd.vn/portal/images/Share/090409Huonga21.jpg

       Ảnh chụp trong "Đêm nhạc Hoàng Tạo - Ngọc Khuê" do Hội Nhạc sĩ VN tổ chức (1993)

Trong ảnh: NS Trương Ngọc Ninh, NSND Thanh Hoa và NK đang hát "Mùa xuân làng lúa làng hoa"

Ngày 10 tháng 3 ta, là ngày Quốc Giỗ, đồng thời cũng là ngày Hội làng Giá quê tôi (Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội). Mời mọi người về thăm quê tôi qua một vài bức ảnh và bài viết sau đây nhé, Thank!

      

                                           VÀI NÉT VỀ LÀNG YÊN SỞ

                                           Huyện Hoài Đức, Hà Tây, nay là Hà Nội

           Bài viết của Ông Nguyễn Thế Dũng - Trích lời bình phim Video “Tế dẫn” trong Hội Giá

      Xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội xưa gọi là Cổ Sở, có tên nôm là làng Giá Lụa. Như tên gọi xưa, Yên Sở là một vùng đất cổ, có niên đại trên dưới 3500 năm, có truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời, toạ lạc vùng thượng lưu giòng Hát Giang thơ mộng, nay là giòng sông Đáy đang vươn mình trở dậy. Cánh bãi phù sa Tả Đáy ngút ngàn dâu xanh, mía ngọt tạo nên một vùng quê nổi tiếng trồng dâu nuôi tằm, kéo tơ dệt lụa sánh vai với các làng La Vạn trong vùng. Làng còn có cả một Chợ Tơ Lụa họp vào các ngày 3, ngày 8 âm lịch tại giưa làng với tên gọi là Chợ Lụa. Là một làng đông dân, trù phú lâu đời , lại được chở che bởi một rừng dừa sầm uất – loại cây trái trời ban tặng riêng cho làng bởi cả một vùng Bắc bộ rộng lớn mênh mông này, không có làng nào nhiều dừa đến vậy. Cho nên, một số người còn gọi làng tôi là Làng Dừa. Làng là một chỉnh thể nhất xã, nhất thôn, gần một vạn dân nhưng đều là anh em, bà con phi nội tắc ngoại, thương yêu đùm bọc nhau, cùng phụng thờ ông bà tiên tổ và hướng tâm vào nơi Cửa Phật, không một ai theo đạo nào khác. Do vậy từ xa xưa, làng đã có một nền nếp văn hoá tốt đẹp đã được phong tặng “Mỹ tục Khả phong”. Nền nếp văn hoá ấy thể hiện trong việc đối nhân xử thế, trên kính, dưới nhường, nhất nhất tuân theo pháp luật và các phong tục tốt đẹp được ghi trong Hương ước làng. Truyền thống hiếu học cũng được phát triển từ lâu, các vị Tiến sĩ Nguyễn Chiêu Khanh đời Nhà Mạc, Trần Danh Tiên đời Lê cùng nhiều vị cử nhân tú tài được lưu danh đã chứng minh điều đó. Nói đến làng Giá Lụa quê tôi, không ai không biết đến câu “Đình không xà, làng bày ba cái Giếng”. Đình không xà là một ngôI đình cổ, có từ thế kỷ thứ 14, 15; được kiến trúc đặc biệt, không có bất cứ xà dọc xà ngang nào. 73 giếng khơi được đào sâu, xếp đá vòng tròn lên mặt đất, đáy giếng nào cũng có một khung gỗ lim xếp hình chữ Tỉnh – Tỉnh là giếng.

                  

Từ xa xưa làng tôi đã là một vùng hiểm yếu ở vùng đồng bằng Bắc bộ - “Cổ Sở danh tam hiểm”, do vậy nơi đây đã ghi bao kỳ tích chống ngoại xâm. Từ các cuộc khởi nghiã Hai Bà Trưng năm 40 đầu thiên niên kỷ I, đến chống xâm lược Nguyên Mông, Minh Thanh với những di tích còn đây: “Cầu Binh, Mả Gạo, Gò Gio…” Đặc biệt, dân làng tôi vô cùng tự hào về những chiến công hiển hách của người con trung hiếu của quê hương đánh ngoại xâm phương Bắc ở thế kỷ thứ 6 sau Công Nguyên: Đó là Tướng công Phạm Tu Lý Phục Man. Người được sinh ra từ xóm nghèo Lã Xá đất Cổ Sở. Từ nhỏ đã có sức khoẻ phi thường, lớn lên thành chàng trai tuấn tú, có tài thao lược, thuần hoá được ngựa voi và có tài thiện xạ. Trước ách xâm lược tàn bạo của Nhà Lương, Người đã đứng lên dựng cờ khởi nghiã, ân binh đồng lòng theo Người giệt giặc rất đông nên chỉ trong thời gian ngắn, người đã giải phóng được cả vùng rộng lớn xứ Đoài. Lúc ấy, trên đất Thái Bình – Thạch Thất ngày nay – Lý Bôn cũng dựng cờ khởi nghiã. Nghe theo tiếng gọi của chính nghĩa, Phạm Tu đã đem toàn bộ dân binh và đất đai giảI phóng sát nhập vào đoàn quân Lý Bôn. Dưới ngọn cờ họ Lý, Người đã giải phóng được vùng Đỗ Động, Đường Lâm rộng lớn, góp phần đắc lực vào thắng lợi chung, đánh đuuôỉ quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, cùng Lý Bôn dựng nên nước Vạn Xuân độc lập – một nhà nước độc lập đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Người được phong Thái Uý dứng đầu trăm quan, được đổi Quốc tính, chuyển thành họ Lý. Kịp gặp lúc quân Chiêm Thành Lâm ấp ở phía Nam phát động chiến tranh xâm lược lấn chiếm bờ cõi phía Nam của Tổ quốc, Lý Nam Đế tin tưởng giao cho Người trọng trách dẹp giặc phương nam. Người chỉ một lần ra quân Nam Tiến dã giành thắng lợi huy hoàng; bọn vua quan Lâm ấp Chiêm Thành xin đời đời quy phục, Người được phong là Phục Man Tướng Công, sau quen gọi là Lý Phục Man và được vua Lý Nam Đế gả con gái cho Người. Năm Ất Sửu - 545, viên bại tướng nhà Lương lại được vua Lương sai sang xâm lược nước ta lần nữa. Dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế, Người đã chỉ huy quân đội chiến đấu quyết liệt chặn bước chân xâm lược của kẻ thù. Trong một trận quyết chiến chiến lược ở đồn Tô Lịch – Hà Nội ngày nay – Người đã anh dũng hy sinh. Hai Tuỳ tướng họ Trương đã mở đường máu, phá vòng vây đưa Người về quê hương, Người đã hoá thân trong Rừng Cấm, cạnh bến Hồ Mã bên dòng Hát Giang thân yêu. Người đã được khâm tặng Gia Thông Đại Vương, Thiên Nam Thánh, Thượng đẳng Phúc Thần. Đền thờ Người được lạp trên bến Hồ Mã ngay từ khi Người được hoá thân về cõi vĩnh hằng. Năm 1012, nhân chuyến trần du trên sông Hát, Lý Thái Tổ đã cho xây dựng lại đền, dựng tượng thờ.

                   
            

Và từ đó trải qua các đời Trần, Lê… Đền Giá được xây dựng thêm, ngày càng hoàn chỉnh, đồ sộ, nguy nga hiếm thấy. Nhân dân làng chúng tôi gọi đây là Đền, là Miếu và mấy mươi năm gần đây quen gọi là Quán - Quán Giá bởi sự linh ứng đặc biệt của Người. Đền thờ Người có ba lớp: Đền Thượng (Cung Cấm) có tượng thờ Người được dựng theo giấc mộng của Lý Thái Tổ, bên trái Người là Lý Nương Đại Vương, bên phải Người là Á Nương Đại Vương- Bên ngoài gần sát Đền Thượng là 2 tuỳ tướng họ Trương; tiếp theo là đền Hạ, hay còn gọi là Tiền Đường. Hai đầu, kề sát Đền Trung là nhà Bia ở phía Tây, nơi còn lưu giữ được 5 bia đá, bia cổ nhất được dựng năm Canh Thân, niên hiệu Vĩnh Tộ 1620 đời Nguyễn Dực Tôn Tự Đức. Các bia này ghi lại sự tích Thần, các sắc phong qua các thời đại, năm tháng xây dựng, tôn tạo khu đền và quy ước lễ hội. Bên Đông Đền, một nhà thờ Thần Bạch Mã được đúc bằng đồng năm Đinh Hợi 1707 thời vua Lê Dụ Tôn, là một công trình kỹ thuật, mỹ thuật đặc sắc có một không hai. Nhân dân làng chúng tôi ngày đêm nhang nến phụng thờ Người vô cùng nghiêm cẩn. “Nhân vi Tướng, Tử vi Thần”, Người đã anh linh kỳ diệu. Xưa đã vậy, ngày nay vẫn thế. Xưa các bậc vua chúa, vương thân hoàng tộc từ Thăng Long về đây tế lễ, cầu nguyện được linh ứng hộ trì nên các triều đại xưa đều ban thưởng nhiều sắc phong, sắc lệnh ân sủng cho dân làng được miễn thuế, miễn phu phen tạp dịch để chuyên lo việc phụng thờ Người. Dân làng chúng tôi cũng dồn hết tâm sức, niềm tôn kính, biết ơn Người vào việc hệ trọng này. Thờ không dễ, giữ lễ càng khó. Do vậy, các tuần tiết phụng thờ Người được dân làng quy định rất cụ thể, chi tiết, nghiêm ngặt từ đầu năm đến cuối năm. Mỗi tiết lệ đều có cách thức thức lễ tế riêng, có văn tế riêng; ngay như trong những ngày lễ hội, mỗi ngày cũng có một bài văn tế riêng theo thể phú biền ngẫu gieo vần theo từng ngày. Đó là chuyện xưa được các cụ truyền lại và đã ghi trong Hương ước làng được lập từ lâu, sao lục lại vào năm Duy Tân thứ 8.

                                                                               Nguyễn Thế Dũng, Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội

             

   

1 2 3 4  Sau»